Đánh giá hiệu quả phòng trừ của chế phẩm Chitosan đối với tuyến trùng hại tiêu tại Bình Phước

biotechvn
Số bài viết:
447
Số tài liệu đã gửi:
288
Bạn phải Đăng nhập để tải tập tin
Hình thức chia sẻ: 
Đường dẫn
Mô tả tài liệu: 
Tình hình sản xuất ngành hồ tiêu trong nước và trên thế giới
      Tiêu là cây trồng quan trọng của nhiều nước trên thế giới như Ấn Độ,  Brazil, Campuchia, Indonesia, Malaysia, Sri Lanka, Thái Lan, Trung Quốc. Việt Nam được chính thức gia nhập Cộng đồng Hồ tiêu quốc tế (IPC) từ tháng 3/2005. Từ đó ngành hồ tiêu của Việt Nam có nhiều thuận lợi để phát triển bền vững trong bối cảnh toàn cầu hoá và nhu cầu ngày càng cao về chất lượng sản phẩm của thị trường (dẫn theo Viện Chính sách và chiến lược Phát triển Nông thôn). Với qui mô trồng và năng suất như hiện nay, sản lượng hồ tiêu dao động trên dưới 100.000 tấn/năm, tuỳ theo điều kiện thời tiết và bệnh hại. Dịch hại là vấn nạn cho các vùng trồng tiêu ở Việt Nam, đặc biệt là tuyến trùng hại rễ (Nguyễn Tăng Tôn, 2006)
Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước về tuyến trùng hại tiêu
      Vài nét về tuyến trùng hại cây trồng     
     Hàng năm, tuyến trùng làm giảm 10 – 20% năng suất cây trồng trên thế giới. Powell (1984) cho biết: chỉ tính riêng tuyến trùng nốt sưng hại thuốc lá năm 1982 vùng Carolina đã làm giảm 0,77% sản lượng, gây thiệt hại 8.932.000 USD. Trong nhiều trường hợp tuyến trùng còn có thể tham gia vào quá trình ký sinh gây bệnh cùng một lúc với một số các nguyên nhân gây bệnh khác như nấm và vi khuẩn. Chúng phá vỡ mô tế bào và mạch dẫn tạo điều kiện thuận lợi cho các VSV gây bệnh khác xâm nhiễm dẫn đến hiện tượng cây bị bệnh với nhiều triệu chứng cùng một lúc. Các loài tuyến trùng nốt sưng Meloidogyne spp. là nhóm gây hại quan trọng chiếm đa số trong nhóm động vật hạ đẳng nhỏ bé. Chúng gây hại trên nhiều loại cây như: cà chua, dưa chuột, ớt, thuốc lá, bầu, bí, chuối, dứa, cam, chanh, nho, dừa, cà phê, hồ tiêu; các loại cây cảnh, các loại cây dược liệu như: bạch chỉ, ngưu tất...
Tuyến trùng thực vật đã được tìm ra từ giữa thế kỷ 18. Lần đầu tiên Needham (1743) đã phát hiện ra tuyến trùng thực vật trên bông lúa mỳ, được Steinbuch đặt tên là Vibriotritici. Dựa vào những đặc điểm về hình thái, tập quán sinh sống, đặc tính sinh vật học, mối quan hệ giữa nhóm tuyến trùng thực vật đối với cây trồng mà chúng được chia làm 5 nhóm sinh thái khác nhau (Paramonop, 1962).
       Kết quả  nghiên cứu về tuyến trùng hại hồ tiêu 
      Tuyến trùng là bệnh phổ biến ở nhiều nước Brazil, Ấn Độ, Indonesia… (Ramana, 1987). Winoto 1972, Mustika 1978 v.v..). Theo Winoto (1972) ở Sarawak, tại Malaysia, tuyến trùng Meloidogyne spp. gây hại hàng loạt làm cho cây bị vàng lá, còi cọc và có triệu chứng thiếu dinh dưỡng nghiêm trọng. Triệu chứng bệnh tăng thêm khi có sự kết hợp giữa sự nhiễm Meloidogyne incognitaFusarium solani, trong điều kiện khô hạn và đất nghèo dinh dưỡng. Fieldphoto (2004) cho biết, tuyến trùng Meloidogyne spp. có hầu hết trên thế giới và đặc biệt là ở những nước có khí hậu ẩm. Ở Hy Lạp tuyến trùng Meloidogyne spp. gây nguy hiểm cho nền nông nghiệp (D. Prophetou, 2003).
       Tuyến trùng hại rễ (Meloidogyne, Pratylenchus…), rệp vảy, rệp sáp... không chỉ là những sâu bệnh hại nguy hiểm mà vết thương do chúng gây ra tạo điều kiện thuận lợi cho các loại nấm ký sinh yếu gây hại và làm cho cây hồ tiêu chết nhanh hơn.
Theo Nguyễn Thơ và CTV (2009), tuyến trùng nốt sưng rễ là một trong những đại diện chủ yếu của tuyến trùng ký sinh thực vật, phần lớn thuộc chi Meloidogyne và có ý nghĩa kinh tế. Tuyến trùng nốt sần rễ thường gây hại đối với nhiều loại cây trồng điển hình là cây hồ tiêu. Chúng chủ yếu sống trong đất, các dạng sợi hạch, bào tử nang, quả nấm… có sức chống chịu lớn, chúng cũng tồn tại trong rễ, xác thực vật nằm trong đất.
      Tại Đăk Nông, rệp sáp hại rễ và quả, tuyến trùng Pratylenchus, Meloidogyne hại rễ, các loại nấm Pythium, Phytophthora… gây thối rễ, héo cây là những tác nhân chủ yếu hạn chế năng suất và sản lượng hồ tiêu ở vùng này. Ngoài ra các loại bệnh do vi rút, nấm thán thư, tảo… cũng gây hại đáng kể ở nhiều vùng trồng hồ tiêu trong tỉnh.
Thành phần bệnh hại tiêu ở các tỉnh Miền Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long gồm có 2 nhóm bệnh hại chính là nhóm bệnh hại thân lá (bao gồm: bệnh thán thư, bệnh đen lá, bệnh đốm lá, bệnh khô vằn, bệnh gỉ lá) và nhóm bệnh hại rễ và gốc thân. Phạm Văn Biên (1989).
      Kết quả điều tra tại các vùng trồng hồ tiêu khác nhau đã ghi nhận, cây hồ tiêu không chỉ bị bệnh do nấm mà còn có sự hiện diện của nhiều loại tuyến trùng ký sinh trên rễ (Nguyễn Ngọc Châu, 1993) như: Meloidogyne, Radophonus, Rotylencholus… cùng tác động gây hại lên bộ rễ của cây tiêu còn có một số nấm như: Fusarium, Rhizoctonia… những thao tác trong khi bón phân, xới xáo đất và đặc biệt trong mùa mưa nếu tạo ra các vết thuơng cho bộ rễ là điều kiện cho nấm bệnh xâm nhiễm và gây hại bộ rễ, cuối cùng cây bị chết.
      Mới đây, kết quả điều tra của Nguyễn Thị Thu Thủy, Lê Lương Tề và CTV (2006) cho biết,  có 29 loài tuyến trùng thuộc các họ khác nhau có mặt ở các vùng trồng tiêu của Việt Nam. Trong đó, chủ yếu và phổ biến nhất là loài Meloidogyne incognita. Nhóm tác giả cũng nhấn mạnh rằng tuyến trùng Meloidogyne spp. là một trong những nguyên nhân chính gây bệnh nốt sưng rễ – vàng lá chết cây ở các vùng trồng tiêu, gây tác hại đáng kể cần được quan tâm nghiên cứu phòng trừ.
Yuji Oka, Rivka Offenbach và Shimon Pivonia (2004) cho rằng: Tất cả các giai đoạn sinh trưởng đều bị tấn công, các triệu chứng phát triển dần dần theo thời gian và không nhận thấy cho đến khi cây trồng biểu hiện ra bên ngoài. Bao gồm các triệu chứng héo vàng và toàn bộ cây kém phát triển; thối và chết có thể xảy ra trong điều kiện trời nóng và khô. Cây sẽ giảm diện tích lá, quả dẫn đến năng suất thấp. Bên dưới mặt đất, các rễ trụ và rễ tơ có hiện tượng u sưng, rễ chuyển sang màu nâu do tế bào bị tác động. Chúng ngăn cản nước và chất dinh dưỡng lên trên lá làm cho cây bị héo vàng. Cây bị tuyến trùng hại rễ dễ dàng bị nấm và vi khuẩn xâm nhập. Ảnh hưởng thứ hai là làm cho lá vàng rụng và cuối cùng cây chết nhanh chóng. Erwin và O.K.Ribeiro (1996) cho rằng, vào giai đoạn kinh doanh, cây hồ tiêu bị bệnh thường có biểu hiện héo nhẹ. Sau đó, lá chuyển vàng và rụng sớm. Sau khi lá rụng, quả bị khô, bộ rễ của cây bị thối.
      Triệu chứng của bệnh hại là cây ngừng sinh trưởng, lá vàng, rụng đốt, ra hoa và đậu quả kém. Tạo thành những nốt sần ở rễ tiêu là đặc điểm rất cơ bản và đặc trưng của bệnh này, nếu bệnh nặng cây có thể chết. Nhìn chung các biểu hiện của bệnh ở phần cây trên mặt đất rất khác nhau tùy theo mức độ bệnh nặng hay nhẹ (Nguyễn Ngọc Châu và CTV, 1990).
Phạm Văn Biên (1989) cho rằng, cây tiêu bị tuyến trùng hại nặng lúc đầu có hiện tượng vàng đều các lá ở nửa dưới tán lá. Lá có màu vàng tươi và không có những vết nâu đen như ở bệnh nấm. Dần dần lá chuyển khô vàng, kém phát triển như khi cây bị hạn hoặc thiếu phân.
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU...................................................................................................................... 1
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN
1.1. Tình hình sản xuất ngành hồ tiêu trong nước và trên thế giới........................... 3
1.2. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước về tuyến trùng hại tiêu.................. 3
1.2.1. Đặc điểm sinh học........................................................................................... 6
1.2.2. Quá trình phát triển của bệnh do tuyến trùng gây ra trên cây tiêu ........ 6
1.2.3. Các biện pháp quản lý tuyến trùng hại tiêu................................................. 7
1.3. Các nghiên cứu chiết xuất và sử dụng chitosan................................ 10
1.3.1. Nguồn gốc và sự tồn tại của chitin - chitosan trong tự nhiên.... 10
1.3.2. Tính chất lý hóa và độc tính của chitosan................................. 11
1.3.3. Tình hình nghiên cứu sản xuất của Chitosan ở Việt Nam và trên thế giới       15
1.3.4. Ứng dụng của chitosan trong BVTV.......................................................... 17
CHƯƠNG II: NỘI DUNG  VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Nội dung nghiên cứu................................................................................................ 19
2.2. Vật liệu và phương pháp nghiên cứu..................................................................... 19
2.2.1. Vật liệu nghiên cứu....................................................................................... 19
2.2.2. Phương pháp nghiên cứu............................................................................. 19
CHƯƠNG III: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
3.1. Mật độ tuyến trùng Meloidogyne spp. trong mẫu rễ và trong mẫu đất ở các thời điểm        23
3.2. Hiệu lực diệt tuyến trùng của Chitosan............................................................... 31
3.3. Ảnh hưởng của thuốc đến cây tiêu......................................................................... 34
3.3.1. Sau 5 ngày xử lý thuốc.................................................................................. 34
3.3.2. Sau 15 ngày xử lý thuốc................................................................................ 35
3.3.3. Sau 30 ngày xử lý thuốc................................................................................ 37
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ......................................................................... 39

 
 
 
 
 
Đánh giá : 
0

Facebook Comments Box

X
Hãy điền tên đăng nhập ở Nông nghiệp hữu cơ của bạn.
Điền mật khẩu đi kèm với tên đăng nhập.
Đang nạp