Nuôi cấy quang tự dưỡng cây hoa Cúc cắt cành (chrysanthemum sp. ) bằng hệ thống túi Nylon

biotechvn
Số bài viết:
447
Số tài liệu đã gửi:
288
Ngày đăng:
09-06-2012
Ngày cập nhật:
26-11-2012 | 22:09:02
Thể loại:
Luận văn - Luận án
Chuyên ngành:
Công nghệ tế bào
Số lần xem:
1 346
Số bình luận:
2
Ngôn ngữ tập tin:
Tiếng Việt
Bạn phải Đăng nhập để tải tập tin
Hình thức chia sẻ: 
Đường dẫn
Mô tả tài liệu: 
Hệ thống nuôi cấy được cải tiến không ngừng để thuận tiện cho việc sử dụng và
nâng cao chất lượng của cây cấy mô.
 Năm 1897, lần đầu tiên Loed đã sử dụng hệ thống nuôi cấy bằng ống nghiệm.
Tuy nhiên hệ thống nuôi cấy này có rất nhiều nhược điểm.  
Kỹ thuật nuôi cấy trong bình tam giác đã được Carrel phát triển vào năm 1923.
Sau thành công này, nhiều hệ thống nuôi cấy đã được thử nghiệm như: bình ống,
Erlenmeyer, bình Roux hay đĩa petri (Willmer, 1966). Hiện nay những loại bình này
vẫn còn được sử dụng trong vi nhân giống.
Ngoài các cải tiến về kiểu dáng, vật liệu dùng thiết kế hệ thống cũng không
ngừng thay đổi: thủy tinh, polypropylene, polyvinylglycine và polycarbonate (Zobayed
và cộng sự, 2000).
Hiện nay những cải tiến của bình Magenta, được thiết kế đặc biệt để tăng cường
sự thoáng khí của không gian trong bình. Song song với sự phát triển các loại bình
nuôi cấy, khoa học kỹ thuật ngày càng tiến bộ đã tạo ra được nhiều vật liệu khác nhau
phục vụ cho việc cải tiến các hệ thống nuôi cấy như màng thoáng khí Milliseal. Hệ
thống film thoáng khí chứng tỏ có nhiều ưu điểm vượt trội so với các hệ thống cũ. tuy
nhiên, giá thành của hệ thống này còn quá cao do sử dụng vật liệu đắt tiền
(Tetrafluoroethylene perfluoroalkyl vinyl ether copolymer hoặc Tetrafluoroethylene
hexafluoropropylene copolymer ). Do đó, khó có thể ứng dụng thương mại trong điều
kiện ở Việt Nam.
Hầu hết các phòng nuôi cấy mô ở Việt Nam thường sử dụng bình thủy tinh
trong nuôi cấy  in vitro. Gần đây, những nghiên cứu trong việc sử dụng túi  nylon đã
chứng tỏ được tính ưu Việt trong việc tiết kiệm chi phí trong nhân giống cây  in vitro.
Hệ thống túi nylon đang ngày càng được sử dụng rộng rãi, và dần thay thế bình thủy
tinh trong các phòng nuôi cấy mô ở nước ta.
2.5. Phương pháp vi nhân giống quang tự dưỡng  
Công nghệ vi nhân giống quang tự dưỡng (photoautotrophic micropropagation)
đã được giáo sư Kozai và các cộng sự đẩy mạnh nghiên cứu trong thập niên 90. Từ đó
đến nay có rất nhiều nghiên cứu thành công trong việc ứng dụng phương pháp vi nhân
giống quang tự dưỡng vào sản xuất giống cây trồng. 
Phương pháp vi nhân giống quang tự dưỡng có nhiều ưu điểm hơn phương pháp
truyền thống. Nó thúc đẩy sự tăng trưởng của cây in vitro, rút ngắn thời gian nuôi cấy
và làm hạ giá thành cây in vitro.  
Phương pháp mới này chú trọng đến các tác nhân vật lý của môi trường nuôi
cấy (ion, sự khuyết tán khí hòa tan) và các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của cây
con trong bình nuôi cấy (cường độ ánh sáng, thời gian chiếu sáng, thành phần không
khí, ẩm độ, nhiệt độ và tốc độ luân chuyển của không khí trong bình nuôi cấy…) thay
vì chỉ nghiên cứu thành phần hóa học của môi trường nuôi cấy như nồng độ đường,
muối khoáng, vitamin hay các chất điều hòa sinh trưởng thực vật mà các nhà nuôi cấy
mô vẫn thường quan tâm. Trong vi nhân giống quang tự dưỡng, đường không được sử
dụng trong môi trường nuôi cấy. Nói đúng hơn là không sử dụng các cơ chất hữu cơ
bao gồm cả các chất điều hòa tăng trưởng thực vật, vitamin, aminoacid, ngoại trừ các
chất khoáng được cho vào môi trường (Nguyễn và Kozai, 1998). Điều này dựa trên cơ
sở trong tự nhiên tất cả các cây xanh chứa diệp lục tố điều có khả năng tự quang hợp
để tồn tại và phát triển. Tất cả các cơ quan dùng trong nuôi cấy mô có diệp lục tố đều
có khả năng quang hợp. Chúng có thể nhận CO2  trong không khí làm nguồn carbon
trong quá trình quang hợp mà không cần đường và vitamin trong quá trình nuôi cấy
(Kozai, 1991).
Phương pháp nuôi cấy mô quang tự dưỡng tạo điều kiện tối đa cho cây trong
bình nuôi cấy sử dụng khí CO2 có sẵn trong không khí làm nguồn carbon chính cho
quá trình tăng trưởng và phát triển của cây. Sự loại bỏ đường trong môi trường nuôi
cấy dẫn đến tỷ lệ nhiễm nấm, khuẩn trong quá trình nuôi cấy giảm. Điều này đem lại ý
nghĩa rất lớn trong sản xuất vì chi phí công lao động sẽ giảm đáng kể song song với
việc giảm nguyên vật liệu.  
Theo khái niệm về nuôi cấy mô quang tự dưỡng thì hộp chứa cây cấy mô được
xem như một nhà kính thu nhỏ. Với phương pháp này sự tăng trưởng và phát triển của
cây in vitro phần lớn chịu ảnh hưởng của các tác nhân vật lý trong môi trường nuôi cấy
như ánh sáng, nhiệt độ, ẩm độ, nồng độ CO2, sự trao đổi khí.
Nồng độ CO2  và ánh sáng là hai yếu tố quan trong nhất trong nuôi cấy mô
quang tự dưỡng cùng với cơ quan có diệp lục tố (Kozai, 1996). Sự gia tăng khác biệt 
giữa nồng độ CO2 bên trong và bên ngoài hộp nuôi cấy cùng với sự gia tăng cường độ
ánh sáng làm cho hiệu suất quang hợp tăng (Kozai, 1996).  
2.6. Các ứng dụng trong và ngoài nước về nuôi cấy quang tự dưỡng
  2.6.1. Ở trong nước
Từ năm 1996 đến nay, Viện sinh học nhiệt đới đã tập trung nghiên cứu nuôi cấy
mô quang tự dưỡng trên các đối tượng như: cà phê  (C. arabusta), hông (Paulownia
fortunei), neem  (Azadirachta indica),  lõi thọ  (Gmelina arborea Roxb.),  tre tầm vông
(Thyrsostachys siamensis),  bạch đàn  (Eucalyptus tereticornis),  xoan Ấn Độ
(Azadirachta indica A. Juss), nho (Vitis vinifera L.), lan Dendrobium...  
Các thí nghiệm đã chứng minh các cây  in vitro phát triển tốt trên môi trường
nuôi cấy không có đường, vitamin và độ thoáng khí của bình nuôi cấy cao. Tỷ lệ
nhiễm nấm, khuẩn giảm đáng kể (2 – 0%), ngược với phương pháp nuôi cấy truyền
thống trên môi trường có đường và vitamin (tỷ lệ nhiễm lên tới 10 % trên tổng số cây
nuôi cấy ban đầu). Cây có diện tích lá lớn hơn và sự đóng mở của khí khổng ở mặt
dưới lá theo quy luật của tự nhiên ngay khi gặp điều kiện thay đổi của môi trường.
Trong khi đó cây nuôi theo điều kiện truyền thống (có đường và vitamin) có diện tích
lá nhỏ, khí khổng luôn ở trạng thái mở trong nhiều giờ khi chuyển từ điều kiện in vitro
ra vườn ươm. Tỷ lệ cây sống 95-100 % sau 1 tháng ở vườn ươm đối với cây nuôi cấy
trên môi trường không đường, trái lại chỉ từ 70-80 % theo phương pháp truyền thống.
Kết quả đạt được của những nghiên cứu trên là tạo ra các cây cấy mô có chất lượng
cao, tăng trưởng nhanh do rút ngắn thời gian nuôi cấy in vitro. Đồng thời tỷ lệ cây chết
trong giai đoạn vườn ươm thấp dẫn  đến việc giảm chi phí chăm sóc khi đưa cây ra vườn ươm (Nguyễn Thị Quỳnh, 2005).
  2.6.2. Ở nước ngoài
Đã tiến hành nghiên cứu trên cây dâu tây (Fujiwara và các cộng sự, 1988), lan
Cymbidium (Heo và các cộng sự, 1996), cẩm chướng (Jeong và các cộng sự, 1996), khoai tây, khoai lang (Heo và Kozai, 1999), cà phê (Afreen và các cộng sự, 2002).
 
 
 
 
Đánh giá : 
5

Bình luận

chú ý chính tả+ font chữ trong các tài liệu đưa lên nge biotechvn

Đã sửa

Công nghệ sinh học Việt Nam

Facebook Comments Box

X
Hãy điền tên đăng nhập ở Nông nghiệp hữu cơ của bạn.
Điền mật khẩu đi kèm với tên đăng nhập.
Đang nạp